Chuyến hành hương Canada được thực hiện là nhờ sự hy sinh của các phu nhân và phó tế ở Boston và vùng phụ cận, nhất là anh Tâm, anh chị Thông & Diệu Tú, bởi vì nó xảy ra ngay sau tổ chức Đại Hội XI mà sau hơn bốn ngày mệt mỏi vì lo lắng, chuẩn bị và tiến hành việc tiếp đón, ăn uống cho 87 người, các anh chị còn phải tiếp tục hoạch định việc ăn ở, du hành cho 28 người hành hương.
Xe đi thì đủ chỗ, nhưng xe về lại thiếu nên một vài anh chị phải ngồi trên sàn xe minivan như ngày xưa khi di tản.
Sau đó anh Tâm đưa ba anh đi lấy ba chiếc xe minivan để chở 21 người trong chuyến đi dài 293 dặm, từ Lowell, Boston đến Montréal, Canada – chưa kể một xe van nữa của tám anh chị em từ California đã thuê sẵn từ phi trường.
Buổi chiều hôm ấy nhiều người có dịp dạo quanh khuôn viên thật rộng của nhà anh chị Thông & Diệu Tú – với gần 2.5 acres, có hồ nước để chèo thuyền, có khu rừng đằng sau với những đường mòn bao quanh ngôi nhà có 10 phòng ngủ và một phòng hội họp cho khoảng 30 người! Thật lý tưởng cho phái đoàn hành hương.
Tối hôm ấy, chúng tôi được thưởng thức món thịt nướng do anh Thông ướp và nướng. Sau đó, một cuộc họp ngắn về chương trình hành hương, cũng như phân chia số người cho từng xe. Và khi đến giờ ngủ, các anh chia nhau các phòng trên lầu, dưới nhà. Các chị thì ngủ chung trong một phòng thật lớn, tha hồ tâm sự những vui buồn của đời sống. Có thể nói, nhờ sự chung đụng ấy mà các chị biết nhau và thân nhau hơn.
Sáng thứ Sáu, sau bữa ăn sáng, mọi người chia nhau lên các xe minivan. Trong bốn tài xế, gồm anh Tiến, anh Quang, anh Nhật và một anh ở Cali, già nhất là anh Nhật nhưng lại lái xe nhanh nhất nên được gọi là “già gân” – cũng may là không bị cảnh sát bắt vì speeding.
Chúng tôi đến Đền Thánh Giuse ở Montréal khoảng 5g chiều, thời tiết hôm ấy lên đến 82° F, ánh nắng chói chang soi rõ ngôi đền đứng sừng sững trên ngọn đồi Royal. Ai ai cũng bàng hoàng trước sự nguy nga của ngôi thánh đường nhiều phép lạ này mà kiến trúc của nó được hình thành là nhờ Thánh André Bessette, trước đây chỉ là một thầy gác cửa trường học, nhưng đã có nhiều phép lạ xảy ra qua bàn tay của thầy và dầu trong cây đèn đặt trước tượng Thánh Giuse.
Nhiều nạng gỗ được treo đầy ở tầng dưới của một kiến trúc hai tầng được gọi là Votive Chapel – Nhà Cầu Nguyện với gần 10,000 ngọn nến – trong đó có tượng T. Giuse thật lớn đứng ở phía trước và bên trên ngôi mộ của T. André Bessette ở ngay đằng sau.
Đây là một cơ hội ngàn vàng để tạ ơn và xin ơn, nhờ lời cầu bầu của T. André Bessette. Anh chị Nhật & Phyllis kết hôn với nhau cũng là nhờ thánh nhân giúp đỡ cách đây gần 40 năm! Một lời cầu nguyện chân thành đã được Thiên Chúa nhận lời.
Sau khi rời Đền Thánh Giuse, chúng tôi ăn tối tại tiệm Phở Tây Hồ trong vùng downtown Montréal, sau đó lái vào phố để đến thăm nhà thờ Notre Dame ở đây, nhưng vì trong nhà thờ đang có hòa nhạc nên chúng tôi không thể vào được bên trong. Thật đáng tiếc, bởi vì nhà thờ này được coi là một trong những kiệt tác kiến trúc kiểu Gothic Phục Hưng với những trạm trổ công phu, tinh vi và mỹ miều.
Tối hôm ấy, vì mệt mỏi, chúng tôi chỉ lang thang một vài con đường của khu phố cổ Montréal rồi lái xe về khách sạn Holyday Inn đã được anh Tâm tìm được cách đó vài tháng với giá rẻ và an toàn.
Có khi nào bạn được nếm thử các loại bánh ở Montréal chưa? Thật tuyệt vời. Ngay từ sáng sớm thứ Bẩy, anh chị Trung & Hạnh đã đi bộ thám hiểm khu vực gần khách sạn và đã tìm được tiệm bánh Ô Gâteries với đủ loại bánh và thức ăn vặt. Thế là phe ta chuyển tin cho nhau, đổ về ăn sáng, uống cà-phê. Sung sướng hơn nữa, mọi chi phí đều được chị Tuyết bao thầu!
Phái đoàn hành hương bây giờ được chia làm hai, vì các anh chị ở California có chương trình thăm viếng riêng, nên 21 người còn lại tiếp tục hành hương đến Đền Đức Mẹ ở Cap (tên của địa danh Cap-de-la-Madeleine, chỗ hợp lưu của ba con sông T. Maurice và T. Lawrence, Quebec, Canada). Ở đây, có hai phép lạ xảy ra trong thế kỷ 19. Một là chiếc cầu bằng băng đá được hình thành lạ lùng vào mùa đông không đủ lạnh, bắc ngang qua sông T. Lawrence để giúp vận chuyển những tảng đá lớn từ bên kia sông sang bên này để xây cất ngôi thánh đường đồ sộ. Thứ hai là đôi mắt của bức tượng Đức Trinh Nữ Maria trong nhà nguyện nhỏ lúc bấy giờ trở nên linh động như người thật và đăm chiêu nhìn đến các tín hữu đang cầu nguyện vào ban đêm.
Rời đền Đức Mẹ ở Cap chúng tôi đến đền Thánh Ana ở Beaupré, cũng dọc theo con sông T. Lawrence, cách thành phố Quebec khoảng 22 dặm. Đầu tiên nhà thờ này được xây bởi các thủy thủ để kính nhớ T. Ana (thân mẫu Đức Trinh Nữ Maria) vì thánh nữ là quan thầy của các người đi biển. Phép lạ đầu tiên là việc chữa lành một thợ xây cất bị thấp khớp trầm trọng. Sau đó, nhiều người tìm đến sự cầu bầu của T. Ana với kết quả là nhiều chiếc nạng, niềng chân được để lại và treo dọc trên các bức tường nhà thờ. Đến thế kỷ 18 và 19, sự sùng kính gia tăng đến độ một nhà thờ lớn hơn cần được xây để đón tiếp khách hành hương.
Chúng tôi rời nhà thờ để lái về Montréal sau hơn ba giờ đồng hồ. Cũng nhờ công lao tìm kiếm của chị Tuyết, phái đoàn ăn tối ở nhà hàng Kalbi, trong phố Tầu, chuyên về đồ nướng và sushi, thật ngon. Cũng trong bữa tối này, chúng tôi mừng 56 năm kết hôn của anh chị Luận & Thảo, và cũng mừng sinh nhật của anh Trung. Vui thật vui.
Sau bữa ăn sáng Chúa Nhật, cũng ở tiệm Ô Gâteries, chúng tôi đến tham dự Thánh Lễ ở Đền Thánh Giuse và sau đó lái về Lowell, Boston. Trên đường về, chúng tôi đã ghé vào Rest Area để nghỉ ngơi đôi chút và thưởng thức cà-phê miễn phí của vùng Vermont.
Bữa ăn tối cuối cùng ở Boston là quán ăn Việt Thái nổi tiếng ở đây. Sau đó, chúng tôi trở về nhà anh Thông để chuẩn bị hành trang cho ngày hôm sau, về mái nhà xưa. Trong tâm tình biết ơn Thiên Chúa đã ban cho chúng tôi một cuộc hành hương tốt đẹp, an toàn, chúng tôi cũng cảm thấy phải đền đáp lòng tốt của anh chị Thông & Diệu Tú, nên đã quyên góp, tùy ý mỗi người, thành một số tiền làm quà tặng cho anh chị. Sau khi vui vẻ nhận tấm phong bì, anh Thông cho biết số tiền này sẽ được tặng cho một nhà từ thiện rất nghèo mà anh chị từng giúp đỡ ở Việt Nam. Thật cảm phục sự quảng đại của anh chị.
Kết quả cuộc hành hương này là gì? Tôi thấy điểm nổi bật là sự thân tình của những người tham dự qua những bữa ăn chung, nghỉ ngơi chung, và những chia sẻ trên quãng đường dài. Không biết các xe khác và anh chị em ở trên xe ấy có những tâm tình gì, nhưng tôi được ở trên chiếc xe có anh Tâm, và được nghe anh kể lại cuộc đời của anh với nhiều chi tiết bất ngờ. Anh là một tân tòng, trở lại đạo Công Giáo không phải vì kết hôn với chị Thơm, nhưng vì được ơn chữa lành sau cơn bệnh mà y khoa đã bó tay. Trong cơn hôn mê tưởng chết, dường như anh cảm nghiệm được gặp thiên thần, và sau đó anh đã sống lại. Anh cũng là một nhà khoa học có tám bằng sáng chế, và đã du hành đến hơn 30 quốc gia vì công việc. Nếu biết đến quá khứ của anh, ai ai cũng phải thán phục, vì từ một chú bé trong gia đình nghèo đến độ phải đi chăn trâu, đánh giầy, rồi bán mía ghim ở bến xe đò và làm lơ xe từ Rạch Giá lên Sàigòn để sinh nhai, nhưng anh học giỏi, và được đi du học năm 1971, tốt nghiệp với hai bằng cấp là chemical và nuclear engineering. Anh đã trở thành một phó tế của Giáo Hội Công Giáo. Lý do được anh giải thích là vì anh tìm được các câu trả lời từ những giảng dạy của Chúa Giêsu mà khoa học không thể giải thích được. Anh ao ước dùng kiến thức của mình để đưa nhiều người khác về với Thiên Chúa.
Với tôi, những quãng ngày qua, từ Đại Hội XI cho đến cuộc hành hương Canada, đã đem đến cho tôi nhiều ý nghĩa. Tôi nhận ra được sự quan phòng của Thiên Chúa cho các con trai và con gái của Người mà họ đã hy sinh phục vụ Thiên Chúa và tha nhân trong ơn gọi phó tế và phu nhân của phó tế. Tôi cũng nhận ra được các bài học từ các anh chị em khác, nhất là sự khiêm tốn. Những hy sinh của họ cho tôi thấy, giá trị của một con người không ở sự thành công hay thất bại, giầu hay nghèo, giỏi hay dở, nhưng ở sự thành tâm phục vụ người khác cho dù họ có biết đến hay không. Chúa biết là đủ.
Trong đại gia đình phó tế Việt Nam chúng ta, có lẽ còn nhiều người thánh thiện khác đang âm thầm phục vụ trong các cộng đồng hay các tổ chức bác ái mà cần được biết đến, không phải để khoe khoang, phô trương nhưng là một tấm gương cho mọi người và cũng để các phó tế, phu nhân khác tiếp một bàn tay. Vì chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Và chính khi chết đi là khi vui sống muôn đời. Amen.